Chủ tịch Tôn Đức Thắng sinh ngày 20/8/1888 tại Cù lao Ông Hổ, tỉnh Long Xuyên, nay thuộc xã Mỹ Hòa Hưng, tỉnh An Giang. Từ quê hương giàu truyền thống yêu nước, Bác Tôn sớm hình thành ý chí đấu tranh vì độc lập dân tộc và quyền lợi của người lao động. Năm 1906, khi mới 18 tuổi, Người lên Sài Gòn học nghề và trở thành một người thợ máy. Những năm tháng gắn bó với công nhân đã giúp Bác Tôn sớm nhận thức sâu sắc sức mạnh của tổ chức và tinh thần đoàn kết của giai cấp công nhân.
Trong những năm đầu hoạt động, Bác Tôn tích cực tham gia phong trào công nhân, tổ chức và lãnh đạo nhiều cuộc đấu tranh của công nhân Sài Gòn, trong đó có những hoạt động nổi bật tại xưởng Ba Son. Năm 1919, khi đang làm việc trên chiến hạm của Pháp, Người tham gia cuộc phản chiến của binh lính và thủy thủ Pháp tại Biển Đen, trực tiếp kéo lá cờ đỏ trên chiến hạm để bày tỏ sự ủng hộ đối với Cách mạng Tháng Mười Nga. Sự kiện này thể hiện tinh thần quốc tế, lòng yêu chuộng hòa bình và bản lĩnh của người thanh niên Việt Nam giàu lòng yêu nước.

Năm 1920, trở về Sài Gòn, Bác Tôn cùng những người công nhân yêu nước thành lập và lãnh đạo Công hội bí mật, tổ chức công hội đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam. Từ tổ chức này, phong trào công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn từng bước phát triển, hình thành cơ sở đoàn kết, đấu tranh có tổ chức. Đặc biệt, cuộc bãi công của công nhân Ba Son tháng 8/1925 dưới sự lãnh đạo của Công hội đã trở thành dấu mốc quan trọng trong lịch sử phong trào công nhân Việt Nam, thể hiện bước chuyển từ đấu tranh tự phát sang đấu tranh có tổ chức và ý thức chính trị.
Năm 1927, Bác Tôn tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, giữ những trọng trách trong tổ chức ở Nam Kỳ và tiếp tục hoạt động tích cực trong phong trào công nhân, góp phần vào quá trình chuẩn bị về tổ chức và lực lượng cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tháng 7/1929, Người bị thực dân Pháp bắt, kết án 20 năm khổ sai và đày ra Côn Đảo.
15 năm bị giam cầm tại Côn Đảo (1930–1945) là những năm tháng thử thách khắc nghiệt đối với người chiến sĩ cách mạng Tôn Đức Thắng. Trong lao tù thực dân, Bác vẫn giữ vững khí tiết, niềm tin và bản lĩnh của người cộng sản, tiếp tục cùng các đồng chí đấu tranh chống chế độ nhà tù hà khắc. Những năm tháng ấy càng tôi luyện ý chí kiên cường và phẩm chất cách mạng của Người.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Bác Tôn trở lại hoạt động cách mạng và được Đảng, Nhà nước giao nhiều trọng trách quan trọng. Người có những đóng góp to lớn trong kháng chiến chống thực dân Pháp, xây dựng chính quyền cách mạng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất.
Trong những năm tiếp theo, Bác Tôn lần lượt đảm nhiệm nhiều cương vị quan trọng, trong đó có Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng Ban Thường trực Quốc hội, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch nước. Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời năm 1969, đồng chí Tôn Đức Thắng được Quốc hội bầu làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và từ năm 1976 là Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên mỗi cương vị, Bác luôn thể hiện sự khiêm tốn, giản dị, đoàn kết, tận tụy và hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân.

Với 92 tuổi đời và gần 70 năm hoạt động cách mạng, Chủ tịch Tôn Đức Thắng đã để lại một di sản tinh thần vô cùng quý báu. Đó là lòng trung thành với Đảng và cách mạng, tinh thần đoàn kết, ý chí kiên cường trước mọi thử thách, phong cách sống giản dị, gần gũi với Nhân dân và đạo đức của một người cách mạng suốt đời đặt lợi ích của Tổ quốc, của Nhân dân lên trên hết.
Cuộc đời Bác Tôn vì thế không chỉ là một trang sử vẻ vang của cách mạng Việt Nam mà còn là một bài học lớn về lòng yêu nước, ý chí vượt qua gian khổ, tinh thần đoàn kết và trách nhiệm phụng sự Nhân dân.
Trong giai đoạn hiện nay, khi bộ máy chính quyền được sắp xếp theo mô hình mới, địa giới hành chính có nhiều thay đổi, những phẩm chất và tư tưởng ấy càng có ý nghĩa thiết thực. Đối với cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và người lao động học tập tấm gương Bác Tôn chính là biến truyền thống thành hành động cụ thể: tận tụy với công việc, gần dân, trọng dân, lắng nghe Nhân dân, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, đoàn kết và không ngừng đổi mới để phục vụ Nhân dân ngày càng tốt hơn.
Thực hiện và biên soạn: Trường Giang